Không có sản phẩm nào

Quay lại trang trước

Cây vài thiều

25.000 ₫
Mã sản phẩm: CTA10901

Trạng thái: Còn hàng

Cây vài thiều

Giống Vải thiều được nhân giống vô tính với đặc điểm của cây con luôn mang tất cả các đặc tính tốt nhất của cây mẹ
Cây Vải thiều nhân giống vô tính cho cây giống với khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng ổn định
Cây Vải thiều nhân giống vô tính cho cây giống khỏe, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, chịu úng chịu hạn cao
Cây Vải thiều giống có chiều cao từ 40-55cm

Kĩ thuật trồng vải thiều

I. Các giống vải thiều:

1. Vải thiều Thanh Hà:

Quả gần tròn , vỏ quả đỏ vàng , quả nhỏ , trọng lượng 15-20gr/ quả , hạt lép , tỷ lệ cùi/quả 74% , ráo nước , ngọt thanh , thơm , hơi có vị chua , chín vào tháng 6 , tính yên ổn cao.

2. Vải thiều Phú Hộ:

Có 2 dạng quả , quả đít nhọn , hạt lép và quả đít bằng, hạt to. Vỏ quả đỏ thắm , quả to , trọng lượng quả 30gr/quả , tỷ lệ cùi/quả 70% , ráo nước , chín sớm hơn vải Thanh Hà 5-7 ngày.

3. Vải Xuân Đỉnh:

Đặc thù gần giống vải Thanh Hà , quả to hơn , vỏ quả màu đỏ thắm , chất lượng ngon.

II- Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

1. Chọn đất:

Cây vải không kén đất , đòi hỏi quan trọng của đất trồng vải là phải thoát nước , tầng đất dày , tuy nhiên đối với trồng bằng cành chiết , bộ phận rễ phát triển kém , đưa lên đồi phải giữ ẩm tốt và giữ cho cây khỏi lay gốc để đảm bảo tỷ lệ sống sau trồng cao.
- Đối với đất đồi , trồng vải phải chọn nơi có độ dốc thấp dưới 25oC , nhất quyết phải trồng theo đường đồng mức và phải có băng cây chống xói mòn.

2. Thời vụ trồng:

- Vụ Xuân: trồng tháng 3-4
- Vụ Thu trồng tháng 8-9.

3. Mật độ trồng:

400 cây/ha , khoảng cách trồng 6m x 4m.

4. Đào hố trồng:

- Đất bằng , thấp , đào hố rộng 70-80 cm , sâu 70 cm; đất đồi đào hố rộng 70-80 cm , sâu 80-100 cm , lớp đất mặt để một bên.

5. Bón phân lót:

Trước khi trồng 1 tháng , trộn 20-30 kg phân chuồng , 0 , 7 kg phân lân + cỏ + rác + phân xanh lấp kín đến miệng hố rồi lấp đất mặt cho bằng miệng hố.

6. Trồng cây:

Khi trồng bới một lỗ nhỏ giữa hố định sẵn , sâu 15-20 cm , đặt cây rồi lấp đất kín bầu , lấy tay ấn chặt ( chú ý không dùng chân dẫm làm bộ bầu ). Trồng xong đóng cọc , buộc cây vào cọc chống gió làm lay gốc-trồng xong tưới nước cho cây.

7. Chăm sóc:

a. Tưới nước: sau trồng phải thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho cây chóng bén rễ.
b. Bón phân: Ba năm đầu dùng nước phân pha loãng để tưới. Từ năm thứ 4 trở đi hàng năm bón cho mỗi cây 40-50 kg phân chuồng + 1 , 5 kg đạm urê + 2kg lân + 0 , 7 kg kali , chia làm 3 đợt để bón.
Đợt 1: Tháng 10-11 , bón 100% phân chuồng + 40% lượng đạm + 40% lượng lân.
Đợt 2: Tháng 12-1 , bón thúc lúc tan rã mầm hoa , bón 40% lượng đạm+ 30% lượng lân + 40% lượng kali.
Đợt 3: Tháng 3-4 , bón hết số phân cần bón trong năm.
c. Đốn tỉa , tạo hình:
- Ngay khi cây ở vườn ươm , tạo cho cây có một thân chính và 3 cành hướng về 3 phía.
- Hàng năm cắt bỏ cành tăm , cành vượt , cành sâu bệnh. Loại bớt cành vụ đông , chăm sóc , trông coi cành vụ thu và vụ xuân.
- Khi cây ra quả bói ( ra lứa hoa , quả đầu tiên ) cần cắt bỏ sự hoạt động cho cây khoẻ.
d. Phòng trừ sâu bệnh:
- Bọ xít: Phát triển mạnh vào tháng 3-4 làm rụng quả , dùng Drotox , Bi 58 nồng độ 0 , 1-0 , 7 % , Dipterex nồng độ 1% phun trừ bọ xít non , hoặc chọn ngày tối trời rung cây , bọ xít rụng xuống bắt và diệt.
- Sâu đục cành: sâu trưởng thành là loại xén tóc đẻ trứng lên cành , sâu non đục vào thân cành làm cành bị gẫy , khô. Dùng gai mây hoặc dây thép chọc vào lỗ trực tiếp diệt sâu. Dùng thuốc padan 15 SP , nồng độ 30-40gr/ 10 lít nước nhỏ vào lỗ sâu đục.
- Nhện 4 chân: Miệng chích hút ở dưới mặt lá , hiện ra những lông nhung màu đỏ , ngắt lá bị hại đem đốt hoặc dùng thuốc hoá học ortors nồng độ phun 0 , 05-0 , 1 % , Bi 58 nồng độ phun 0 , 1%.

III. Bảo quản , chế biến:

- Để quả vào túi Pôlyetylen thủng , để ở nhiệt độ 70C có thể giữ được 5 tuần , nhìn chung bảo quản quả tươi đối với vải là rất khó.
- Hiện nay , người ta chế biến vải sấy khô , vải nước đường... đều đáng được coi trọng dinh dưỡng và kinh tế cao.

Sâu bệnh hại cây vải

1. Nhện lông nhung:

Triệu chứng: xem xét kỹ lưỡng lá non vào buổi sáng , nếu lá co lại uốn cong xuống , mặt dưới lá hiện ra lớp lông mịn màu trắng đó là nhện lông nhung đã phát sinh.
Phòng trừ:
- Cần loại bỏ hoặc phun hoá chất huỷ lộc đông , để cắt nguồn thức ăn , cắt đứt chuyển lứa qua vụ xuân năm sau , giảm mật độ nhện phát sinh trên hoa và quả non.
- Cuối tháng 2 đầu tháng 3 kiểm tra thường xuyên nếu phát hiện có nhện thì phải tiến hành sử dụng thuốc đặc trị phun cho nhện như Pegasus 500 SC , Ortus 5SC , Comite.

2. Bọ xít nâu

Phòng trừ bọ xít nâu có 2 giai đoạn quan trọng:
- Trong tháng 8 , 9 nếu phát hiện nhiều bọ xít cần phòng trừ. Có thể dùng vợt , rung bắt tiêu huỷ hoặc phun thuốc hoá học. Hiệu quả đợt phòng trừ này sẽ giảm mật độ bọ xít non vụ xuân tháng 2 , 3.
- Ngắt ổ trứng bọ xít vụ xuân tháng 2 , 3.
- Khi trên chùm hoa và quả non cuối tháng 3 , 4 có mật độ bọ xít non ≥ 2 con/chùm hoa cần phun thuốc hoá học.
- Thuốc hoá học phun trừ bọ xít hiệu quả cao và thông dụng nhất bây giờ là thuốc Sherpa 25 EC , 40 EC.

3. Trừ sâu đục cuống quả

Sâu đục cuống quả vừa gây thiệt hại năng suất vừa giảm phẩm chất của quả.. Bướm , trứng và sâu non rất nhỏ , phát hiện khó nên phòng trừ quan trọng là sử dụng thuốc hoá học. Bây giờ chủ yếu nông dân đều sử dụng phương thức phun thuốc định kỳ để phòng trừ sâu đục quả và thường phải phun 3 , 4 lần thuốc mới ngăn lại trong một giới hạn nhất định thiệt hại. Do vậy phí tổn rất cao. Ngược lại nếu không phòng trừ , tỉ lệ quả bị hại có xác xuất tới 70-80%.
- Bướm sâu đục quả thường rộ vào cuối tháng 4 đầu tháng 5. Thời kì từ đẻ trứng đến trứng nở là 7-10 ngày. Thời khắc phun thuốc là khi trứng nở , điểm này rất khó rõ ràng vì trứng và sâu non rất nhỏ. Vậy , tốt nhất là phun thuốc trừ sâu đục quả vải khi hạt vải chuyển từ màu xanh sang nâu , hoặc trước khi thu hoạch vải 1 tháng. Thuốc hoá học phun trừ sâu đục quả có thể dùng Sherpa 25EC , Regent 5 SC , Padan 95SP nồng độ 1/1000 , Pegasus 500ND nồng độ 1/800.
Lưu ý khi phun thuốc nên sử dụng bình phun có áp suất lớn , phun từ trong tán phun ra và chụp từ ngoài tán vào thì hiệu quả phòng trừ đạt cao hơn. Phải chắc chắn thời kì cách li trước khi thu hoạch theo khuyến cáo trên bao bì của sản phẩm.

4. Phòng trừ bệnh thán thư ( gây hiện tượng chàm , thối quả ).

Bệnh làm giảm mẫu mã quả. Bệnh nặng quả vải không chín được. Bệnh thán thư thường hiện ra đầu tiên cuối tháng 4 sau khi quả non hình thành 10-15 ngày. Bệnh phát triển mạnh từ giữa tháng 5 khi thời tiết nóng ẩm có mưa rào và kéo dài đến khi thu hoạch quả. Thời khắc phun thuốc phù hợp khi bệnh hiện ra với tỉ lệ bệnh < 5%.
Để phòng và trừ bệnh hiệu quả cần chú ý các phương pháp sau:
- Tỉa cành , vệ sinh vườn cho thông thoáng.
- Bón phân cân đối , không bón phân đạm vào thời kì quả lớn.
- Đủ nước , không để bị hạn vào giai đoan quả phát triển.
Thuốc hoá học phòng trừ bệnh: Bavistin 50 Fl , Anvil , Topsin M là những thuốc phun trừ bệnh hiệu quả.

5. Phòng trừ bệnh sương mai.

Bệnh sương mai trên vải cũng là một bệnh tương đối phổ biến. Bệnh phát sinh cả trên lộc , trên hoa , quả non và gây hại nhất ở thời kì quả chín từ cuối tháng 6. Nguồn lây lan bệnh chủ yếu là bào tử nấm có trong đất lưu lại từ các tàn dư vụ trước.
Các biện pháp phòng bệnh quan trọng là:
- Vệ sinh vườn: tỉa cây đầu vụ , thu nhặt tàn dư vụ trước tiêu huỷ sạch.
- Xây dựng hệ thống tiêu thoát nước tốt.
- Phòng trừ bệnh bằng thuốc hoá học chỉ tập trung vào thời kì quả vải chín thường xuyên kiểm tra vườn nhất là khi thời tiết có nhiều mưa. Để ý những chùm quả dưới gốc khuất trong tán cây và sát dưới đất. Bộ phận này bệnh thường xuất hiện trước rồi mới lây lan lên cao.
Thuốc Ridomil Gold 68 WP , Ridomil MZ 72 WP là thuốc đặc trị phun trừ bệnh công hiệu nhất. Nếu bệnh nặng cần phun 2 lần cách nhau 7 ngày.

6. Phòng trừ bệnh chết rũ cây

Bệnh chết rũ cây do một nhóm nấm gây bệnh trong đất như Phytophthora , Pythium , Rhizoctonia , Fusarium...Triệu chứng của bệnh là cây dừng sinh trưởng , lá chuyển từ xanh sang xanh nhạt , rồi vàng. Nấm gây bệnh tồn tại trong đất liên đới dồi dào đến chế độ nước , phân bón và đất. Vì thế thủ pháp phòng trừ bệnh cần quan tâm là:
- Xây dựng hệ thống tưới tiêu thoát nước tốt.
- Bón phân cân đối hợp lí , coi trọng bón phân hữu cơ.
- Đốn đau cây , phối hợp bón phân chuồng ủ mục trộn với chế phẩm Trichodecma hoặc vôi bột , rải đều lấp đất nhẹ , tưới dung dịch Boóc đô 5% , hay Sulphat Cu 2%.

Để hạn chế sâu bệnh hại vải bà con nhà nông cấn thực hiện tốt các biện pháp phòng trừ tổng hợp:

* Biện pháp canh tác
+ Mật độ : Đối với diện tích đất trung du và đồi dốc mật độ trồng từ 160-170 cây/ha , đất bình nguyên mật độ < 150cây/ha. Trồng mới nên trồng dày để tạo tán thấp cây tiện lợi cho chăm sóc. 100 cây/ha nơi đất xấu, 280 cây/ha đối với chân đất màu mỡ.
+ Cây giống khoẻ sạch bệnh , chất lượng ngon , không dùng cây bị bệnh làm giống.
+ trỉa cây , cắt bỏ cành sâu bệnh , vệ sinh vườn được xem là thủ pháp canh tác quan trọng nhất trong việc:
- Giảm nguồn sâu bệnh chuyền sang vụ sau.
- Tạo môi trường bất thuận cho sự nảy sinh và phát triển các loại sâu bệnh.
- Tạo cho lộc non ra nhanh , lộc to và khoẻ.
Tực hiện đốn tỉa: tháng 8 , 9 sau khi thu hoạch quả. Cắt bỏ cành vô hiệu , cành bị sâu bệnh. Tuổi vườn càng cao , cành tỉa nhiều hơn cho vườn thông thoáng.
+ Có hệ thống tưới , tiêu thoát nước chủ động tránh ngập úng khi mưa. Khi bị hạn phải luôn luôn tưới nước nhất là vào thời kì nuôi quả. Thực tế cho thấy vườn vải kém thoát nước , thường bị nặng các bệnh sương mai và bệnh chết rũ. Hạn nặng thì thường bị bệnh thán thư , đốm nâu dẫn đến nứt quả khi gặp vận tiết mưa.
+ Sử dụng phân bón và bón phân hợp lí.
- Nên sử dụng phân chuồng hoai mục để bón bổ sung cho vải hàng năm vào 2 đợt: đợt 1 tháng 9 sau đốn trỉa cây để thúc ra lộc thu , đợt 2 đầu tháng 4 thúc quả.
- Phân hoá học NPK chỉ nên bón 2 đợt: tháng 2 thúc hoa , cuối tháng 4 thúc quả , lượng bón tuỳ tuổi cây trung bình cây 5-10 tuổi , số lượng phân bón cho một cây/năm: Ure 1 kg , Lân supe 1 , 5 kg , kaliclorua 1 , 5 kg.
- Không nên sử dụng phân đạm riêng rẽ để bón thúc quả ở thời kì quả đang phát triển ( từ cuối tháng 4 trở đi ) để tránh gây nứt quả.
*Biện pháp thủ công
- Ngắt ổ trứng , thu nhặt bọ xít trưởng thành bằng cách rung cây khi bọ xít qua đông rồi mang tiêu huỷ.
- cắt bỏ lộc đông , lộc xuân khi thấy xuất hiện nhện lông nhung sẽ có tác dụng hạn chế sự gia tăng quần thể nhện.
* Biện pháp sinh vật học
- Sử dụng bẫy Pheromon ( mỗi ha đặt 5-10 cái ) từ cuối tháng 4-5 , có tác dụng dự báo thời gian phòng trừ sâu đục quả tốt.
- Sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma ủ với phân hữu cơ bón xung quanh tán cây để hạn chế sự không ưa của một số nấm tồn tại trong đất gây chết rũ cây vải.
* Biện pháp hoá học
Khi sâu bệnh nảy sinh , gặp điều kiện thời tiết tiện lợi chúng sẽ phát triển nhanh chóng. Nên biện pháp hoá học luôn là cách chủ yếu và quan trọng. Bà con khi sử dụng cần tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng( đúng thuốc , đúng lúc , đúng nồng độ liều lượng , đúng cách ).

Sử dụng khoảng cách để phân biệt từ khóa. Sử dụng dấu (') cho cụm từ.

ban cay giong