Không có sản phẩm nào

Quay lại trang trước

Giống Bưởi Năm roi

Liên hệ: 0903.220.995
Mã sản phẩm: CTA20403

Trạng thái: Hết hàng

Giống bưởi Năm Roi

Lá có hình từ oval tới hình elip kích thước trung bình từ 5-10 x 2-5cm , có khi tới 20 x12cm; đế gần tròn hoặc gần hình tim , lá thuộc kiểu lá kép biến dạng ( đơn có thùy ) , thùy ở phiến lá sát vào gân chính , lá phụ ( eo lá , cánh lá ) có kích thước trung bình 4-4 , 5 x 2 , 5-3cm; bìa lá khía tròn , trên 2 mặt lá có nhiều tuyến dầu nằm rải rác , phiến lá rộng có thể tới 5cm hình tim ngược.
Phát hoa mọc thành chùm ở nách lá có thể nhiều hoặc chỉ một hoa. Chùm hoa ngắn , trục có lông. Hoa lớn chồi dài 2-3cm , khi nở rộng 3-5cm , thuộc hoa ngũ phân. Bầu noăn có đường kính trung bình 5mm , chiều dài của bộ nhụy cái ( bầu noăn và nướm ) là 8mm tiểu nhụy nhiều và dính nhau. Cánh hoa màu trắng ngà có mùi thơm dài 2 , 5-3cm , số cánh là năm , xếp theo kiểu luân xen; số tiểu nhị từ 25-30 có khi tới 35 cái , bầu noăn từ 11 -17 buồng dính kín.
tất cả các hoa đều được thụ phấn hình thành công nhưng khi phát triển thường mỗi cành chỉ còn 1-2 quả. Quả có dạng từ gần tròn tới dạng quả lê , đường kính trung bình 15- 20cm có khi đạt 30cm , vỏ ngoài dầy 2- 2 , 5cm màu xanh hơi vàng , khi chín có màu vàng tâm quả rỗng , trên vỏ nổi nhiều tuyến dầu , bề mặt vỏ nhám và vỏ trở thành mỏng hơn. Múi lớn , tép có màu hơi vàng trong mọng đầy nước. Hương vị ngọt không the đắng , độ ngọt Brix từ 9.3- 10.5.** độ pH pH. 4.12.
Hột thường không có hoặc chỉ là dạng lép , đôi khi có vài hột có nhiều cạnh màu hơi vàng; thường đơn phôi.
Ngoài nhu cầu ở nam bộ và Miền trung , bưởi Năm Roi còn được tiêu thụ nhiều ở miền Bắc nước ta.

Tác giá : Beehiep

Kĩ thuật trồng giống bưởi Năm Roi

1. Loại đất và yêu cầu đất trồng:

Cây Bưởi nên chọn trồng trên đất có tầng đất canh tác dày , giàu mùn , đất thoát nước tốt , thành phần cơ giới cát pha , thịt nhẹ , đất phù sa cổ , đất bồi tụ ( lâu năm )

2. Chuẩn bị đất trồng:

Phát dọn các loại cây tạp
Cắm mốc đào hố: Khoảng cách: 5m x 5m; đất tốt khoảng cách: 6m x 6-7m. Trong 3 , 4 năm đầu , có thể trồng xen những loại cây ngắn ngày. Kích thước hố: 60 x 60 x 60cm. Khi đào hố lớp đất mặt để riêng một bên , lớp đất dưới để riêng một bên.
Bón lót: 30 - 40 kg phân chuồng hoai mục + 0 , 5 - 0 , 7 kg lân + 0 , 2-0 , 3 kg Kali + Vôi bột 1 - 1 , 5 kg; thuốc sâu bột 0 , 1kg. Trộn đều lượng phân trên ( không có vôi và thuốc ) với lớp đất mặt và lớp đất giữa ( khi đào hố để riêng ). Trải lớp đất dưới xuống hố , tiếp đó lấp phân và đất đã trộn xuống hố , dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi phách lối hố và lấp đất mỏng 2-3 cm. Tiếp đó bơm nước vào đầy hố , khoảng 10-15 ngày sau bón thuốc sâu bột trên mặt hố , dùng cuốc đảo trộn đều khoảng 15 ngày sau là trồng được.

3. Cách trồng:

Đào ở giữa hố , đặt cây vào hố rồi lấp đất ( lấp đất vừa bằng cổ rễ hoặc cao hơn 2 - 3 cm tránh làm vỡ bầu hay lấp đất quá sâu. Khi trồng nên tỉa bớt lá. Cây giống khi trồng nên đặt thẳng đối với cây tháp ( ghép ) hoặc cây chiết có nhánh thành phần đều. Đặt nghiêng đối với cây chiết ít nhánh , giúp các đọt bên mọc lên để tạo tán. Sau khi trồng xong phải cắm cọc để buộc thân cây cho gió khỏi lay xô ngã cây. Tưới nước đẫm và dùng cỏ mục để phủ gốc ( phủ cách gốc 10 -15 cm để tránh sâu bệnh xâm nhập ).

4. Chăm sóc:

+ Tưới nước: Sau trồng hai ngày tưới 1 lần , khi cây xanh tốt trở lại 5 - 7 ngày tưới 1 lần , thời kỳ khô hạn , ít mưa nên tưới 3 - 5 ngày 1 lần. Tưới dặm nếu nắng gắt , để ý thoát nước khi bị úng.
+  Bón phân thúc:
Lượng phân bón tùy thuộc vào tình trạng sinh trưởng của cây , nếu không có phân chuồng có thể sử dụng phân hữu cơ sinh vật học với lượng 10 - 20 kg/hố. Thời kì bưởi nuôi quả cần tu bổ phân bón lá , trung vi lượng , Siêu Calcium , bao hạt vàng để chống thối - nứt quả. Cây từ 1-2 tuổi nên pha vào nước , tưới định kỳ 1 - 2 lần/tháng. Cây từ năm thứ 3 trở đi , bón 4 đợt /năm , bón theo vành mép tán cây với lượng phân bón cho mỗi gốc:
Đợt 1 , sau khi thu hoạch , bón phân chuồng + lân + vôi ( Bón theo rãnh sâu 20-30cm , sau đó lấp đất ).
Đợt 2 , trước khi ra hoa 1 tháng , bón 1/2 lượng phân Urê.
Đợt 3 , sau khi đậu quả 1 tháng , bón 1/2 lượng phân Urê và Kali.
Đợt 4 , trước khi thu hoạch 1 - 2 tháng , bón 1/2 lượng Kali còn lại.
Phương pháp bón: đạm , kali rải đều xung quanh tán , xới đất lấp phân. Ngoài ra có thể phun các loại phân bón lá và các nguyên tố vi lượng Mn , Fe , Zn , Bo , Mo , ... Danh thiếp chất kích thích , điều tiết sinh trưởng.
3. chăm sóc khác: Làm sạch cỏ , trồng các loại cây che phủ đất giữ ẩm hạn chế cỏ dại. Thăm vườn luôn luôn , tỉa bỏ các cành vượt , cành sâu bệnh. Tỉa bớt hoa quả vào năm chúng ra lan tràn, thừa, làm cho bưởi kiệt sức. Thu hoạch tập trung và tăng cường phân bón vào những năm được mùa. Sau đậu quả 1-2 tuần cần bổ sung chất dinh dưỡng và các nguyên tố trung , vi lượng. Bổ sung Siêu Calcium , bao hạt vàng để chống thối - nứt quả. Quét vôi vào gốc cây ngăn sự trú ngụ của sâu bệnh.

5.  Cách xử lý bưởi cho quả trái mùa:

Khi mùa mưa vừa chấm dứt , rút cạn nước mương , sau đó cắt không tưới nước chờ cho đất mặt vườn khô nứt chân chim thì dùng cào có răng ngắn bằng sắt xới xung quanh gốc ( xới cách gốc khoảng 0 , 5 m , rộng ra đến hết tán lá và xới sâu khoảng 2 cm ). Sau khi xới để cho đất khô khoảng 1 tuần lễ sau thì bón cho mỗi gốc 0 , 5 kg Urê và 0 , 5 kg lân , sau đó rãi lên 1 lớp bùn khoảng 1-2 cm. Chờ cho lớp bùn khô nứt chân chim thì tưới nước cho cây hàng ngày để giữ ẩm cho đất. Sau khi bón phân khoảng 20 - 25 ngày thì cây nhất định ra đọt non và ra bông. Khi quả lớn cỡ ngón tay cái thì bón tiếp phân lần 2 , lượng bón: 0 , 3 kg Urê + 0 , 3 kg lân + 0 , 3 kali/gốc. Sau đó định kỳ khoảng 30 - 40 ngày bón cho cây 1 đợt. Tùy vào hiện trạng cây mà bón cho cây lượng phân tương tự như đợt 2.

Sâu bệnh hại cây bưởi da xanh

* Bệnh loét 

1. Triệu chứng nhận biết bệnh: 
Trên lá non: Vết bệnh thoạt đầu là những chấm nhỏ đường kính dưới 1mm thông thường ở mặt dưới lá , màu trắng nhạt hoặc nâu nhạt. Xung quanh vết bệnh có quầng tròn dạng giọt dầu màu vàng hoặc xanh tối. Khi vết già rắn lại nổi gờ giống như ghẻ , loét , sần sùi , mặt dưới lá sù sì , mặt trên lá nứt nẻ màu xám tro. 
Trên quả: Vết bệnh ở quả cũng như ở lá , vết bệnh cứng , sù sì , màu nâu , hơi lõm , mép ngoài có gờ nổi lên , ở giữa mô bệnh chết rạn nứt. Vết bệnh không ăn sâu vào ruột nhưng làm quả biến dạng , ít nước , khô sớm , dễ rụng 
Trên cành và thân cây non: cũng như trên lá nhưng bị sùi lên , ở giữa không bị lõm xuống , xung quanh không có quầng vàng. Vết bệnh lớn nối liền với nhau bao quanh thân non và cành làm phía trên bị khô héo , dễ gãy đặc biệt là bệnh nhiễm theo các vết đục của sâu vẽ bùa. 
Bệnh có thể bị nhầm lẫn với ghẻ chốc ( sẹo ) , bệnh loét biểu hiện trên cả hai mặt lá , xung quanh vết bệnh có viền vàng sáng và không làm lá biến dạng , nhăn nheo. Trái lại ghẻ chốc thường xuất hiện ở một mặt lá , thường là mặt dưới , vết bệnh nhỏ hơn vết bệnh do loét gây ra và thường nhô cao trên bề mặt phiến lá , xung quanh không có quầng vàng. 
2. Tác nhân gây bệnh : 
Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas canpestris pv. citri gây ra. 
3. Điều kiện nảy sinh phát triển bệnh 
Bệnh loét phát triển khi gặp điều kiện nhiệt độ cao ( 20-30 độ C ) , ẩm độ cao. Bệnh gây hại nặng ở những cây còn nhỏ , chưa thành thục. Sâu vẽ bùa cũng là môi giới truyền bệnh , chúng tiến công trên lá non và tạo vết thương là nơi vi khuẩn rất dễ xâm nhập vào trong tế bào cây và gây hại. 
4. Biện pháp phòng trừ 
- Thu vén sạch tàn dư , bộ phận bị bệnh trong vườn đem đi ngoài hủy. 
- Dùng các giống chống chịu bệnh loét. 
- Trồng trọt con sạch bệnh , dụng cụ làm vườn nên được làm sạch bằng Javel. 
- xử lý đất trước khi trồng. Đối với hạt , mắt tiếp cây , quả tại các trạm đóng gói có thể xử lý bằng Javel với nồng độ 1.500 ppm trong 5-10 phút. 
- Bón phân cân đối. Trồng các cây chắn gió ở phía ngoài vườn hoặc xen kẽ giữa các hàng cây. 
- Phun các loại thuốc vào các đợt ra lộc ( đọt ) bằng các loại thuốc Kocide , Kasuran , Coc 85 hay thuốc có gốc đồng như: Booc-đô , Champion hoặc dầu HMO. 
- Khi cây bị bệnh , ta nên sử dụng thêm các loại thuốc như Kasumin , Starner , Physan 20 phun theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất. 
- Phun thuốc trừ sâu vẽ bùa như Applaud 10WP , Ofunack , Vertimic , Confidor. 
- Quét vôi vào gốc vào cuối mùa nắng , xới gốc và bón vôi sẽ giúp hạn chế mầm bệnh phát triển. 
- Trong vườn có nhiều cây bị bệnh nặng , không nên phun nước tưới thẳng lên tán cây vì như vậy sẽ giúp phân tán mầm bệnh trôi nổi trong nước tưới hay bắn các giọt vi khuẩn sang lá , cành , quả khác. 

* Ghẻ chốc 

1. Triệu trứng của bệnh 
Các vết bệnh mới đầu như những gai nhọn nhô ra khỏi mặt lá , cành non hoặc quả. Thời kì sau , những gai nhọn chuyển màu nâu có kích tấc 1-2 mm. Lá bệnh thường biến dạng , cong về một phía. Cây con bị nặng sẽ lùn , phát triển kém. Trên quả các vết bệnh nối lại thành những mảng lớn nhỏ làm cho vỏ quả sần sùi , quả không lớn được. 
2. Tác nhân gây ra bệnh 
ghẻ chốc ( còn gọi là bệnh sẹo , ghẻ nhám , ghẻ lồi… ) do nấm Elsinoe fawcetti làm nên. 
3. Đặc điểm gây hại
Nấm bệnh lưu tồn chính yếu trên lá và cành non đã bị lây nhiễm bệnh. Sau đó khi gặp điều kiện thuận lợi ẩm độ cao , nhiệt độ từ 25-30 oC chúng sẽ nẩy mầm và bay theo gió , nước mưa lây lan bám vào mặt nhánh lá non, quả non đặt vào thế bất lợi , kể cả những quả vừa mới đậu. 
4. Biện pháp phòng trừ 
- Phun phòng bệnh cây con ở vườn ươm.Trồng cây giống sạch bệnh. 
- luôn luôn vệ sinh vườn , cắt tỉa cây tạo tán cho vườn cây thông thoáng. 
- cắt bỏ và tiêu hủy những nhánh lá bị bệnh để hạn chế mầm bệnh 
- Bón phân hợp lý theo từng thời kì để tránh ra chồi non liên tục.Giảm lượng phân đạm bón cho cây , ngưng phun phân bón lá lúc cây đang bệnh. 
- Sử dụng một số loại thuốc như Booc-đô 1% , Zineb 0 , 2% phun phòng vào thời kì cây con. 
- Trên vườn cây có múi ở thời kỳ kinh doanh cần phun sau mỗi đợt lộc cũng như thời kì vừa đậu quả bằng một trong các loại thuốc sau : 
+ Kumulus 80 DF ( Sản phẩm của Cty BASF-Đức ): pha 30-40 g/bình 8 lít 
+ Polyram 80 DF ( Sản phẩm của Cty BASF-Đức ): pha 25-30 g/bình 8 lít nước thuốc 
+ Bavistin 50 FL ( Sản phẩm của Cty BASF-Đức ) : pha 5-10 ml/bình 8 lít 
+ Bemyl 50 WP ( Sản phẩm của Cty Cổ phần Nông dược HAI ) : pha 20-25 g/bình 8 lít 
+ Carbenda 50 SC ( Sản phẩm của Cty Cổ phần Nông dược HAI ): 5-10 ml/bình 8 lít.

*Sâu vẽ bùa 

1. Triệu chứng nhận biết
- Sâu non mới nở màu xanh lợt , trong suốt , dài khoảng 0 , 4mm , lớn lên có màu vàng xanh , dẹt , gần hoá nhộng có màu vàng. Sâu non không chân , đốt cuối bụng có hình ống dài. 
- Nhộng dài 2 , 5 - 3mm , phía đuôi thon nhọn , có một gai nhỏ trên đầu , có 2 đốm màu đen cuối mầm cánh. Khi mới hoá nhộng có màu vàng lợt , sau chuyển sang màu nâu. 
2. Đặc điểm phát sinh và gây hại
- Ban ngày bướm ẩn nấp ở mặt dưới lá , hoạt động mạnh lúc chập tối , rất ít vào đèn. Đẻ trứng tản mát từng quả ở mặt trên hoặc mặt dưới lá non. 
- Sâu non gây hại bằng cách đào các đường hầm ngoằn ngoèo phía dưới biểu bì lá , ăn lớp tế bào nhu mô diệp lục tố , để lại lớp biểu bì trắng bạc. 
- Sâu gây hại rất sớm ngay từ khi lá non mới xòe ra , nhiều trường hợp đa số các lá non bị sâu hại. Lá bị uốn cong và biến dạng , giảm quang hợp , có thể làm khô và rụng lá , làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. 
- Vết đục của sâu vẽ bùa còn là đường thâm nhập của vi khuẩn gây bệnh loét rất phổ thông trên lá cây có múi. 
- Sâu vẽ bùa gây hại quanh năm đặc biệt là giai đoạn cây chồi , lá non. 
3.Biện pháp phòng ngoại trừ 
- Cắt tỉa cành , bón phân hợp lý cho cây ra chồi tập trung để hạn chế sự phá hại liên tiếp của sâu , thuận tiện cho việc phun thuốc phòng trừ. 
- Nuôi kiến vàng trong vườn cây có múi. 
- Theo dõi các đợt chồi ra rộ trên vườn , nhất là các đợt chồi xuân , đợt chồi sau khi v , sau khi bón phân và sau khi tưới nước. 
- Tiến hành phòng trừ sớm khi độ dài của chồi đạt 1-2 cm hoặc thấy sự gây hại của sâu vẽ bùa. Phun ướt đều cây bằng một trong các loại thuốc sau : 
+ Dầu khoáng Citrole 96 , 3EC : 80 ml/bình 16 lít nước 
+ Elsan 50EC , Nurelle D 25/2.5EC , Oncol 20EC : 40-60 ml/bình 16 lít nước; Oncol 25WP : 40 ml/bình 16 lít nước 
+ Mospilan 3EC : 15-20 ml/bình 16 lít nước; Mospilan 20SP : 5 g/bình 16 lít nước 
+ Fastac 5EC , Cyper 25EC : 10-20 ml/ bình 16 lít nước 
+ Lannate 20SP : 40 g/bình 16 lít nước 
+ Sumi Alpha 5EC : 10 ml/bình 16 lít nước 

*Bệnh Greening 

1. Tác nhân gây bệnh
Bệnh do vi khuẩn gây ra , vi khuẩn tấn công mạch dẫn của cây. 
2. Triệu chứng 
Trên lá: thể hiện đặc thù của bệnh là phiến lá đầy , khoảng cách giữa các lá ngắn bất ngờ) , có màu vàng , nhưng gân chính và gân phụ vẫn còn màu xanh và nhỏ , mọc thẳng đứng nên có tên bệnh vàng lá gân xanh. 
Trên quả: Quả nhỏ hơn bình thường , quả bị biến dạng , khi bổ dọc thì tâm quả bị lệch hẳn sang một đằng , quả có quầng đỏ từ dưới đít lên. Hạt trên quả bị bệnh thường bị thối , có màu nâu. 
Bộ rễ: Khi cây bị lây bệnh làm rễ cây bị thối, đa phần rễ tơ bị mất chỉ còn các rễ chính , thậm chí rễ chính cũng thối. 
Các triệu chứng trên hiện ra từng cành , từng cây trong vườn , có khi hiện ra ở cả vườn. 
Sự kết hợp giữa các triệu chứng trên với việc hiện diện của rầy chổng cánh trong vườn là điều kiện cho việc xác định bệnh lá vàng gân xanh.
3. Phân biệt cây bị bệnh vàng lá gân xanh với cây bị thiếu kẽm: 
Cây bị bệnh vàng lá gân xanh thì thường thể hiện triệu chứng ở những cây phía ngoài vườn nhiều hơn ở trong; trên một cây có cành nặng , cành nhẹ và có cành không bị bệnh. Diến biến bệnh t tương đối nhanh nên chết rất nhanh từ cành bị nặng đến cành bị nhẹ. Trên quả thì thể hiện triệu chứng đầu tiên là quả bị biến dạng , khi bổ ra sẽ thấy tâm lệch qua một bên và hạt bị thối. 
Cây thiếu kẽm có thể thể hiện đồng loạt trên tất cả các cây hay ở một hướng hoặc một thửa nào đó trong vườn , triệu chứng giống nhau , mọc chỗ ẩm thấp bị nặng hay nhẹ. Mức độ biến diễn rất muộn , có thể kéo dài trong nhiều năm sau cây mới chết tuỳ theo hoàn cảnh chăm sóc. 
4. Điều kiện phát sinh phát triển của bệnh
Bệnh lây lan do rầy chổng cánh truyền vi khuẩn từ cây bị bệnh sang cây chưa bị bệnh và bệnh lây lan qua mắt ghép. 
Vườn cam quýt chăm sóc thừa , đất dễ ngập úng cũng là nhân tố tạo điều thúc đâỷ bệnh phát triển mạnh. 
5. Phòng trừ bệnh
Đến nay bệnh này vẫn chưa có thuốc trị mà phòng là chính: 
trồng cây giống khỏe , sạch bệnh 
Không sử dụng vườn cam quýt có cây bị bệnh để nhân giống.
Chặt bỏ cây cam quýt đã bị truyền nhiễm bệnh đem tiêu hủy để giảm lây lan bệnh sang cây không bị bệnh. 
Trồng cây chắn gió quanh vườn như xoài , giâm bụt , để tránh rầy chổng cánh thâm nhập , hoặc trồng xen ổi; không trồng xen trong vườn các cây họ cam quýt. 
Tạo tán , tỉa cành để vườn quang đãng mát mẻ , tránh giao tán; bón phân cân đối và vừa đủ , không quá nhiều phân đạm để cây ra lộc non tập trung. 
Thăm vườn luôn luôn để phát hiện rầy chổng cánh và phun thuốc trừ rầy kịp thời;phun thuốc đều khắp cây và tập kết vào các lộc đuối , lá non. 
Sử dụng một trong số các loại thuốc sau để phun trừ rầy chổng cánh nhăn chặn sự truyền bệnh như: Trebon , Sherpa , dầu khoáng…/. 

*Bệnh thối gốc chảy nhựa 

1. Đặc trưng gây hại: 
Bệnh gây hại trong điều kiện ẩm độ cao , nhiệt độ thấp , độ pH đất thấp phù hợp cho nấm hại phát triển. 
Ở phần gốc xuất hiện các những vết nhũn nước thuốc , nhựa chảy ra. Lúc đầu các vết có màu vàng sau khô lại chuyển sang màu nâu. Về sau vết nước khô lại và nứt ra , ngay vết bệnh vỏ trong bong ra. Bệnh có thể phát triển nhanh vòng quanh thân hoặc rễ chính làm lá bị vàng , nhất là gân lá , kế đó là rụng lá , trọng bệnh lá tren cành rụng gần hết , cành khô chết. 
2. Tác nhân gây bệnh: 
Do nấm Phytopthora nicotinanae gây ra 
3. Phòng trừ bệnh 
+ Không nên ủ cỏ sát gốc vào mùa mưa , cách gốc 20 – 30 cm 
+ Dùng Bordeaux 1% , Copper Zinc 85WP. Mancozeb 80WP , Dithane M 45WP , Champion 77WP , Acrobat MZ 90/600WP… pha đặc phết vào vết bệnh 7/lần , để ngừa phết 2 lần/năm vào đầu và cuối mùa mưa. 
+ Khi bệnh gây hại trên cây phun thuốc gốc đồng ( như Champion 77WP , Copper Zinc 85WP ) , nhóm Mancozeb ( Manzate 80WP ) , nhóm Metalaxyl ( Ridomil 72WP ) , nhóm Fosetyl Aluminium ( Aliette 80WP ). Vết bệnh ở gốc , có thể dùng các loại thuốc trên pha đặc , rửa sạch vết bệnh và phết thuốc vào.

 

Sử dụng khoảng cách để phân biệt từ khóa. Sử dụng dấu (') cho cụm từ.

Quý khách cũng có thể quan tâm đến các sản phẩm sau

ban cay giong