Không có sản phẩm nào

Quay lại trang trước

Cây thông đuôi ngựa

0 ₫
Mã sản phẩm: C10501

Trạng thái: Còn hàng

Cây thông đuôi ngựa

Cây gỗ lớn , cao 20-30( -40 )m; thân thẳng , tròn; vỏ ngoài màu nâu đỏ , nhưng ở phía gốc lại có màu nâu đen , khi già thường bong ra từng mảng. Cành non màu hung hoặc màu vàng nhạt , trơn. Thứ cây lớn , màu xanh nhạt , tập kết ở đầu cành , mềm , rủ xuống , thường 2 ( rất ít khi 3 ) lá trong một bẹ , dài 12-20cm.
Nón cái có dạng cầu khi còn non , nhưng khi già lại có hình dạng trứng , dài 4-7cm , đường kính 2 , 5-4cm; khi chín có màu hạt dẻ.
Hạt màu nâu nhạt , có cánh mỏng dài khoảng 1 , 5cm.

Kĩ thuật trồng cây thông đuôi ngựa

1. Hạt giống:

Thu hái quả trên những cây trội hoặc các lâm phần lấy giống , tốt nhất là cây 15-40 tuổi khi quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng , vảy quả có những đốm nâu phồng lên và hơi nứt tách ra.
Phơi nắng hoặc rải quả nơi thoáng gió để hạt tách ra , thu hạt làm sạch cánh và tạp chất rồi tiếp tục phơi chỗ thoáng 2-3 ngày.
Khoảng 35-40 kg quả lấy được 1kg hạt có từ 80000-85000 hạt.
Hạt được bảo quản trong điều kiện khô , kín và mát. Độ ẩm hạt trong quá trình cất trữ tốt nhất là trong điều kiện độ ẩm là 6-8%.có thế bảo quản hạt trong lọ thuỷ tinh , chum , hũ sành hoặc túi nilông đậy kín trong có chứa 4-6% vôi cục theo lượng hạt đựng trong túi vải để hạt luôn được khô.

2. Tạo cây con:

Vỏ bầu bằng P.E rộng 6-7cm , cao 11-12cm , thủng đáy.
Ruột bầu tốt nhất là 75% đất tế guột + 5-10% đất mùn thông + 5-10% phân chuồng ủ hoai +1% supe lân hoặc phốt phát nội địa ( % theo trọng lượng ). Nếu không có đất tế guột thể dùng đất mặt dưới thực bì cây bụi , cỏ , lau lách hay đất mặt vườn ươm có thành phần cơ giới trung bình, pH 4 , 5-5 , 0.
Xử lí hạt bằng cách ngâm trong nước ấm 35-400C có hoà suphát đồng với nồng độ 0 , 5% hoặc thuốc tím nồng độ 1/1000 trong 5-6 giờ để trừ nấm.
ủ hạt trong bao tải và rửa chua hàng ngày , khi nứt nanh đem gieo trên khay , hòm đựng cát hoặc luống gieo.
Hạt nảy mầm dài 0 , 5-1cm đem cấy vào bầu đã xếp sít trên luống rộng 1m tưới đủ ẩm. Nơi nắng gắt có thể cắm ràng đến khi cây bỏ mũ thì gỡ ràng ra.Khoảng thời gian đầu phải phòng trừ chim , gà , chuột , kiến ăn hoặc tha hạt.
Thông đuôi ngựa dễ bị nhiễm bệnh rơm lá do nấm Cecospora pini densifarae và một số nấm khác nên cần phun phòng kịp thời theo quy trình đã được ban hành.
Làm cỏ phá váng và tưới nước đầy đủ , không để đất quá ẩm hoặc quá khô.

3. Tiêu chuẩn cây con đem trồng.

Tuổi từ 4-6 tháng tuổi , chiều cao: 10-15cm , đường kính cổ rễ: 2 , 0-3 , 0mm , có lá thật , có nấm cộng sinh ở rễ.

4. Thời vụ

gieo ươm thùy thuộc vào thời vụ trồng. ở Lạng Sơn , Quảng Ninh thường gieo vào tháng 11 và 12 chậm nhất là tháng 1-2.

5. Trồng rừng:

Vùng trồng tốt nhất là các tỉnh dọc biên giới Việt Trung ở độ cao 500-700m trở lên , thể trồng ở vùng đồi núi thấp phía Bắc từ Hà Nội , đất tương đối sâu , dưới thực bì sim mua , cây bụi. Không trồng trên đồi trọc mỏng lớp , bị đá ong hoá.
Xử lí thực bì tất cả hoặc theo băng rộng 1-2m. Nơi đất tốt , dốc nhẹ có thể san ủi bậc thang , cầy cuốc toàn diện để làm nông lâm kết hợp.
Kích thươc hố rộng 30x30x30cm.
Mật độ trồng 2500-3300 cây/ha.
Khi trồng phải xé bỏ bầu , đặt cây đứng thẳng , lấp đất đầy hố và nện chặt gốc cây. Có thể trồng hỗn loài với sau sau hoặc giẻ theo hàng hoặc theo băng.
Gieo hạt ,chăm sóc cây ươm tương tự cây thông nhựa. Cây con thường gieo nuôi thẳng cho đến khi đánh trồng Do vậy phải gieo với mật độ hợp lí sao cho lúc mới mọc cây ít bị cỏ dại lấn át. Sau đó tỉa thưa dần cho cây luôn có khoảng sống để sinh trưởng phát triển bình thường. Đặc biệt chú ý phòng trừ các loại bệnh như thối hạt , chết rụi mạ , lở cổ rễ , đen rễ , … do nấm Fusarium , Pythium , Rhizoctonia gây hại , nhất là trong 90 ngày đầu nếu mưa nhiều bệnh thối cổ rễ phát triển mạnh. Cũng trong thời gian này , nếu gặp rét kéo dài cây có thể bị bệnh tím lá , như đã thấy ở Quảng Ninh. Ngoài tac động của thời tiết , bệnh tím lá còn có thể do cây bị thiếu lân , vì vậy bón lót và thúc với phân lân có tác dụng làm cho cây xanh trở lại rõ rệt và sinh trưởng tốt hơn. Để hạn chế bớt nấm bệnh , dùng đất vàng lấy ở tầng B , hoặc đất hun làm đất phủ hạt lúc gieo.
Thời vụ trồng thích hợp là vụ xuân ( tháng 3-4 ) , là thời kì nhiệt độ trung bình tháng còn dưới 15-200C , lượng mưa tháng đã được trên 30-50mm với độ 10 ngày có mưa , chủ yếu là mưa phùn nhẹ , và hè ( tháng 5-6 ) , có thể mở rộng đến vụ thu ( tháng 8 ). Tranh thủ trồng vào gia đoạn cây chưa ra lộc non mới. Các tỉnh biên giới phía Bắc có khả năng trồng rễ trần vào vụ xuân. Trồng rễ trần , trước khi trồng có thể hồ rễ.
Phải chú ý phòng trị sâu ăn lá. Có thể dùng các loại thuốc DDT và 666 bột hoặc nước để phun giết sâu róm , xong đồng thời tìm diệt kén , nhộng , trứng.
Ngoài ra có thể dùng cách gieo thẳng hạt lên đồi để gây rừng.

6. Chăm sóc , bảo vệ.

Phải có hệ thống băng trắng , băng xanh để {phòng chống cháy rừng ở nơi trồng có diện tích lớn. Phải tổ chức canh phòng để chữa cháy có hiệu quả trong mùa khô. Đặc biệt có biện pháp phòng trừ , dập tắt các ổ dịch sâu róm thông ăn lá.
Rừng non được chăm sóc tối thiểu trong 3 năm đầu.
Năm thứ nhất: 2-3 lần vào đầu , giữa và cuối mùa mưa.
Năm thứ hai: như trên.
Năm thứ ba: 1 lần vào đầu mùa mưa.
Trong khoảng 3-5 năm đầu cây mới mọc , chưa cần phải tỉa mà chỉ cần chăm sóc đều , sau đó sẽ dần dần tỉa bớt một số cây trong từng hố nếu mọc quá dày.

7. Khai thác , sử dụng

Sau 15 năm thể chặt làm trụ mỏ , bột giấy. Sau 25-30 năm có khả năng khai thác lấy nhựa hoặc làm gỗ xây dựng.

Sử dụng khoảng cách để phân biệt từ khóa. Sử dụng dấu (') cho cụm từ.

ban cay giong