I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN:

1.1. Bò cái

                - Tuổi phối giống lần đầu: 18 – 20 tháng

                - Chu kỳ động dục 17 – 25 ngày (trung bình 21 ngày).

                - Thời gian động dục: 28 – 36 giờ.

                + Giai đoạn trước chịu đực (6 - 10 giờ kể từ lúc bắt đầu động dục): bò ít ăn, ngơ ngác, hay quan sát xung quanh và ngửi con khác, âm hộ sưng, dịch nhờn từ âm hộ chảy ra lỏng, trong và ít.

                + Giai đoạn chịu đực (12 - 24 giờ kể từ lúc bắt đầu động dục): bò kêu rống, chồm lên lưng con khác, lưng cong, dịch nhờn chảy ra nhiều, thành sợi màu trắng trong như lòng trắng trứng gà. Đây là giai đoạn phối giống thích hợp nhất. Sau giai đoạn chịu đực từ 6 – 10 giờ mọi sinh hoạt đều trở lại bình thường.

Nếu sau khi phối giống từ 17 – 25 ngày, bò không có biểu hiện động dục lại thì bò có khả năng đậu thai; nếu không đậu thai thì bò động dục lại.

- Thời gian mang thai 280 – 285 ngày

                - Thời gian bò động dục lại sau khi sinh: 60 – 90 ngày. Nếu chăm sóc nuôi dưỡng không tốt hoặc sinh lý không bình thường thì có thể kéo dài 5 – 6 tháng.

1.2. Bò đực

- Bò đực bắt đầu có tinh trùng ở 9 – 10 tháng tuổi và lúc 12 – 16 tháng tuổi đã thành thục về tính. Bò có biểu hiện tính hăng như nhảy lên lưng con khác, phát hiện được bò cái lên giống.

- Bò đực 18 – 24 tháng tuổi trở lên mới cho phối giống, lúc này bò đực có trọng lượng > 2/3 trọng lượng trưởng thành của giống.

- Bò đực trưởng thành 1 tuần cho phối 2 – 3 lần.

- Thời gian sử dụng bò đực không quá 7 - 8 năm, thời gian sử dụng tốt nhất ở độ 3 - 5 tuổi.

II. CHĂM SÓC - NUÔI DƯỠNG:

2.1. Chăm sóc:

2.1.1.  Bò chửa:  

                Sau khi phối giống, có thể nhận biết bò có chửa hay không bằng cách theo dõi chu kỳ động dục của bò và khám thai bằng cách sờ qua trực tràng.

Phương pháp khám thai qua trực tràng:

Trước hết, cố định bò cái chắc chắn. Đeo găng tay cao su móc hết phân. Sau đó xoa xà phòng hoặc Vaselin vào bàn tay và cánh tay. Chụm các ngón tay lại và đưa tay vào hậu môn. Đẩy tay từ từ, khi nào bò rặn thì ngưng không đẩy tay vào nữa. Khi tay qua khỏi xương chậu thì đưa tay qua lại và lên xuống sờ vào các bộ phận bên trong. Thai nằm ở phía trước giữa khung chậu và hơi chếch xuống dưới. Thai một tháng thì sừng tử cung có thai to hơn sừng tử cung không có thai. Thai hai tháng thì sừng tử cung có thai to gấp hai lần sừng tử cung không có thai. Thai ba tháng đã to bằng nắm tay người lớn. Thai lớn lên thường nằm sâu vào bên trong và dưới xoang chậu.

- Khi xác định bò chắc chắn có thai, chuyển bò qua ô chuồng nuôi bò chửa và chăm sóc, nuôi dưỡng theo chế độ bò chửa. Trong giai đoạn này cần chú ý khi thả bò ra ngoài cho vận động hoặc ăn cỏ, tránh để bò bị húc bởi bò khác hoặc trượt chân, té ngã ... làm sẩy thai. Khi điều trị bệnh hoặc tiêm phòng vaccin chú ý không dùng các loại thuốc có khả năng gây hại cho bào thai.

                - Thả bò ra sân chơi cho vận động và tắm nắng ít nhất là 3 giờ/ngày (trừ trường hợp trời mưa).

2.1.2. Bò đẻ đến nuôi con 1 tháng tuổi:

- Bò chửa trước khi đẻ 10 – 15 ngày chuyển qua ô chuồng đẻ.

- Ô chuồng đẻ nằm trong khu chuồng sinh sản và phải tránh được mưa tạt gió lùa làm lạnh bò bê. Khoảng cách buộc giữa các bò chờ đẻ tối thiểu là 2,5 m sao cho không húc và đá nhau.

- Gần đẻ bò có các biểu hiện sau: thích nhai cỏ lót, khi đứng, khi nằm không yên, có khi chân cào đất, thỉnh thoảng rặn đái, ngoảnh đầu lại đằng sau xem bụng, cong đuôi lên; âm hộ sưng mọng, trễ xuống, nước nhờn như nhựa chuối chảy ra, có khi lẫn máu, vú căng chìa ra hai bên (vắt sẽ có sữa).

Một hai ngày trước ngày đẻ, mông sụt, xương khấu đuôi chỗ tiếp giáp hậu môn tụt xuống độ 3 phân. Khi nào nước ối chảy ra là lúc bê con sắp ra. Từ lúc bò đau đẻ đến lúc đẻ khoảng 3 - 6 giờ, bò mới đẻ lần đầu thì thời gian này có thể kéo dài tới 10 - 15 giờ.

Chuẩn bị đỡ đẻ bò:

- Chuẩn bị dụng cụ: nước muối 10% (3 lít), cồn Iod, khăn lau, găng tay, vaselin, xà phòng, dụng cụ phẫu thuật, thuốc thú y, thau hứng nước ối, rơm khô không bị nhiễm nấm móc.

- Đối với bò mẹ: rửa sạch vùng âm hộ, vú cho bò bằng nước muối 10% sau đó rửa lại bằng nước sạch.

- Chuồng đẻ: tẩy dọn, vệ sinh và sát trùng sạch sẽ.

Thao tác đỡ đẻ:

- Nếu bò đẻ bình thường, hai chân trước và đầu bê con ra trước, khi đó để bò đẻ tự nhiên. Trừ khi bê to mà mẹ nhỏ yếu, có thể hỗ trợ bằng cách nắm hai chân trước của bê mà kéo bê ra theo nhịp rặn của bò mẹ. Sau đó dùng khăn sạch lau nhớt ở miệng và mũi cho bê con (không lau mình, để cho bò mẹ liếm) làm cho bê thở đều và hoạt động bình thường, nếu bê bị ngạt, cần cạy hàm kéo lưỡi ra theo một nhịp đều đặn cho tới khi bê thở được bình thường; cho bê nằm trên rơm khô đã chuẩn bị sẵn, cắt rún, sát trùng cuống rún bằng cồn Iod (trước khi cắt vuốt cuống rún ngược lại với bụng và dùng chỉ đã tẩm Iod buộc cuống rún lại cách vào trong thành bụng 10-12 cm, sau đó cắt bỏ phần ngoài); bóc móng chân cho bê; cân bê trọng lượng bê, ghi vào sổ sách theo dõi; cho bê bú sữa mẹ (sữa đầu).

- Trong trường hợp đẻ khó: do thai quá lớn, tư thế thai không đúng, thú không rặn đẻ hoặc rặn yếu, do cơ vòng tử cung không mở, do cơ âm hộ không dãn … thì cần can thiệp. Kiểm tra nguyên nhân gây đẻ khó từ đó có biện pháp can thiệp riêng.

+ Nếu thai ra lưng trước hoặc cả 4 chân cùng ra trước (ngôi thai ngịch), phải dùng tay đã vô trùng và bôi vaselin lựa chiều đẩy thai vào và xoay cho hai chân trước và đầu bê ra trước như lúc đẻ thuận chiều. Sau đó để cho bò mẹ tiếp tục rặn đẻ.

+ Thai lớn, cơ âm hộ không dãn: Dùng tay đã vô trùng và bôi vaselin nhẹ nhàng đẩy hai chân bê con vào trong và đưa đầu bê con ra ngoài âm hộ, sau đó đưa hai chân bê con ra, kết hợp cơn rặn bò mẹ kéo thai ra ngoài. Nếu cơ âm hộ không dãn bê không thể ra được cần mổ mở rộng âm hộ (vị trí mổ hướng phía dưới âm hộ) sau đó kéo thai ra.

Hộ lý sau sinh:

- Đối với bò mẹ: rửa sạch vùng âm hộ, vú cho bò bằng nước muối 10% sau đó rửa lại bằng nước sạch. Pha một ít muối vào nước ối cho bò mẹ uống. Khi nhau ra xong, tiến hành thụt rửa tử cung bằng Biodin và rửa sạch vùng âm hộ của bò bằng nước sạch, sau đó tiêm kháng sinh Tetra L.A phòng viêm nhiễm tử cung.

- Sau khi đẻ, cho bò mẹ ăn bổ sung thêm cháo loãng + muối trong 3 ngày đầu sau đẻ (theo định mức 1 kg gạo/bò đẻ/3 ngày). 

- Đối với dụng cụ: thu gom, rửa, sát trùng, phơi khô hoặc hấp tuỳ đặc thù của dụng cụ. Sau đó, đem cất đi đúng chỗ theo qui định.

- Chuồng đẻ (nơi đỡ đẻ): tẩy rửa, sát trùng bằng dung dịch Biodin.

Trường hợp sát nhau hoặc sót nhau:

Sau 12 giờ không thấy nhau thai ra hoặc ra nhưng không hết thì phải có biện pháp can thiệp. Trước hết dắt bò mẹ ra khỏi ô chuồng đẻ, cố định bò mẹ trong chuồng ép, đeo găng tay vào. Sau đó dùng ống cao su mềm bơm nước muối ấm 90/00 vào tử cung (nhiệt độ nước từ 35 – 370C, nhún tay vào thấy ấm là được), tay trái cầm cuống nhau kéo nhẹ, tay phải cầm vòi nước đưa vào tử cung dùng ngón trỏ và ngón giữa kẹp lấy núm nhau, ngón cái ủi tách cho núm nhau bong ra, làm lần lượt từng núm nhau cho đến hết.

Sau khi tách núm nhau xong, cho bò đứng dốc phần đầu cao hơn phần sau để nước trong tử cung chảy ra hết. Sau đó dùng kháng sinh Pen – Strep pha với 30 -50 ml nước sạch bơm tiếp tục vào tử cung, giữ cho bò đứng yên phần sau cao hơn phần trước để thuốc ngấm vào thành tử cung khoảng 10 – 15 phút. Sau đó tiêm thêm kháng sinh Tetra L.A và dắt bò mẹ vào chuồng đẻ. Rửa tử cung và tiêm kháng sinh như trên liên tục 3 – 4 ngày đến khi thể trạng bò mẹ trở lại bình thường.

2.1.3. Chăm sóc bò mẹ nuôi con từ 2 – 5,5 tháng tuổi:

- Chuyển bò mẹ qua ô chuồng bò nuôi con > 2 tháng tuổi, khoảng cách buộc giữa 2 bò mẹ nuôi con ít nhất là 2 m để tránh bò mẹ giẫm đạp bê con hoặc húc và đá lẫn nhau.

- Theo dõi bò động dục và phối giống bò mẹ sau khi đẻ 60 -90 ngày.

- Bò mẹ cai sữa bê con lúc bê 5,5 tháng tuổi.

                - Thả bò ra sân chơi cho vận động và tắm nắng ít nhất là 3 giờ/ngày (trừ trường hợp trời mưa).

2.1.4 Bê con theo mẹ (từ sơ sinh đến 5,5 tháng tuổi):

- Cho bê bú sữa đầu 30 phút sau khi sinh, liên tục trong 7 – 10 ngày (bắt buộc)

- Hàng ngày theo dõi và sát trùng cuống rốn từ 1 – 2 lần đến khi rụng rốn, kiểm tra theo dõi cuống rốn tránh để viêm nhiễm cuống rốn bê con.

- Cho bê bú sữa tự do, cung cấp nước sạch đầy đủ. Trường hợp bò mẹ ít sữa phải cho bê bú thêm sữa ngoài (sữa bột chuyên dùng cho bê sơ sinh). Bò mẹ bị chết phải cho bê con bú sữa của bò mẹ khác (chọn bò mẹ tính hiền, có nhiều sữa và đang nuôi bê con có tuổi tương đương với bê bị mất mẹ). Bò mẹ không cho bê con bú cần phải có những biện pháp can thiệp cụ thể như: buộc chân hoặc cho vào chuồng ép cố định bò mẹ lại, nhẹ nhàng kích thích bầu vú đồng thời từ từ đưa bê con vào bú, cho bê con bú 4 - 5 lần/ngày, sau khoảng 2 - 5 ngày bò mẹ quen dần và sẽ hết đá bê con.             

- Lúc 1,5 tháng tuổi tập cho bê ăn dần thức ăn tinh và thức ăn thô xanh.

- Tiến hành nghiệm thu nhập kho, đeo số tai, lập lý lịch theo dõi khi bê 2 tháng tuổi.

- Cai sữa bê lúc 5,5 tháng tuổi

- Tiêm phòng theo lịch tiêm phòng.

- Thả bê ra sân chơi cho vận động và tắm nắng ít nhất 3 giờ/ngày (trừ trường hợp trời mưa).

2.1.5 Chăm sóc bê từ 5,5 – 12 tháng tuổi:

- Khi cai sữa tách bê ra ô chuồng bê, tiến hành xỏ mũi bê.

- Khẩu phần thức ăn theo bảng định mức thức ăn.

                - Thực hiện tiêm phòng theo lịch tiêm phòng.

                - Thả bê ra sân chơi cho vận động và tắm nắng ít nhất 3 giờ/ngày (trừ trường hợp trời mưa).

2.1.6 Bê > 12 tháng tuổi đến giai đoạn bò hậu bị

                - Trong giai đoạn này, phải tách bê đực và bê cái nhốt nuôi riêng. Tiến hành bình tuyển lần 1 chọn những con đạt tiêu chuẩn giống thì nuôi riêng và đến giai đoạn 18 tháng tuổi thì bình tuyển bò hậu bị lần 2 (theo tiêu chuẩn chọn giống). Những con không đạt tiêu chuẩn ở các giai đoạn bình tuyển thì tiến hành nuôi vỗ béo để bán thịt.

- Theo dõi lên giống khi bò cái > 17 tháng tuổi và chỉ phối giống khi bò cái lên giống lần 2.

                - Đối với bò đực chỉ cho phối giống khi bò đạt trọng lượng trưởng thành (> 24 tháng tuổi ). Định mức sử dụng: 1 - 2 lần/tuần.

                - Khẩu phần thức ăn và tiêm phòng theo bảng định mức thức ăn và lịch tiêm phòng.

                - Thả bò ra sân chơi cho vận động và tắm nắng ít nhất là 3 giờ/ngày (trừ trường hợp trời mưa).

2.1.7 Bò khô chờ phối (KCP)

                - Sau khi cai sữa, tách bò mẹ qua ô chuồng nuôi bò khô chờ phối, khoảng cách buộc giữa 2 con bò với nhau > 1m. Đối với những con ốm yếu và bệnh tật phải tách ra ô chuồng khác và chăm sóc riêng.  

                - Khẩu phần thức ăn và tiêm phòng thực hiện theo bảng định mức thức ăn và lịch tiêm phòng. Tiêm thêm AD3E và Selen E mỗi con 1 lần/tháng.

                - Đối với những con mập, khoẻ mạnh nhưng sau khi cai sữa 2 -3 tháng mà không có biểu hiện lên giống lại:

+ Nếu do rối loạn nội tiết tố thì sử dụng vòng Cid đặt vòng hoặc tiêm huyết thanh ngựa chửa (HCG), sau 5-10 ngày bò sẽ lên giống và phối giống ngay.

+ Nếu bị viêm nhiễm tử cung hoặc mắc bệnh truyền nhiễm (ký sinh trùng máu, sán lá gan, sẩy thai truyền nhiễm Brucella  ...) thì phải tiến hành điều trị.

                - Thả bò ra sân chơi cho vận động và tắm nắng ít nhất là 3 giờ/ngày.

2.1.8 Bò đực làm việc

- Vị trí nhốt: nhốt bò đực ở đầu hướng gió, gần khu bò cái hậu bị và bò sinh sản để kích thích quá trình động dục của con cái.

- Chuồng trại: diện tích ô chuồng nhốt 2 x 2,5 m/con. Bò đực phải được nhốt và buộc chắc chắn, tránh trường hợp bò đực nhảy bò cái đang buộc dây có thể làm gãy cổ bò cái.

- Thả bò đực ra sân chơi ít nhất 3 giờ/ngày, cho vận động và để phát hiện bò cái lên giống. Khi thả bò cái và bò đực ra sân chơi, theo dõi và ghi nhận trường hợp bò lên giống.

                - Khẩu phần ăn theo bảng định mức thức ăn.   

2.2 Nuôi dưỡng:

 2.2.1 Thức ăn:

                - Cho bò bê ăn 4 lần/ngày: lần 1: 7 giờ 30; lần 2: 10 giờ; lần 3: 1 giờ 30, lần 4: 3 giờ 30.

                - Phương thức cho ăn:

Lần 1: cám                                                             Lần 2: cỏ

Lần 3: cám                                                             Lần 4: cỏ

- Máng ăn uống phải rửa dọn vệ sinh hàng ngày trước khi cho bò bê ăn, phải hạn chế rò rỉ nước gây thất thoát và làm ẩm ướt nền chuồng. 

- Kiểm tra nguyên liệu, thức ăn trước khi nhập kho và xuất kho.

+ Cỏ xanh: phải sạch, không có tạp chất (cây que có gai, sắt cứng ...), cỏ tươi xanh, không úa vàng, không có hóa chất (thuốc sâu, thuốc độc…), không lẫn cỏ năn quá 5%.

+ Thức ăn tinh: không quá hạn sử dụng, màu sắc đặc trưng, có mùi thơm, không hôi mốc vón cục. Cách cho ăn: cho ăn khô theo khẩu phần từng con, không pha nước cho uống. Bảo quản nơi thoáng mát, cao ráo, không để chuột cắn phá và rơi vãi.

+ Đá liếm: Chế biến đóng bánh xong để phơi trên giá có lót nilon trong bóng mát từ 7 - 10 ngày, khi đảm bảo độ cứng mới đưa vào cho bò bê liếm. Cách cho liếm: dùng dây treo cục đá liếm vào thành chuồng hay khung sắt gần nơi cho bò ăn cỏ và ngay tầm liếm của bò bê. Cách bảo quản: bỏ đá liếm vào bọc nilon buộc lại và để trên giá treo nơi cao ráo, không để nơi ẩm thấp, tránh bị rơi vãi và dính bẩn. Thời gian sử dụng từ 2 – 3 tháng kể từ ngày chế biến.